Tìm kiếm

30 thg 4, 2013

Chương 171: Cẩm nang diệu kế - Hỗn Tại Tam Quốc Làm Quân Phiệt

Mục lục
==============================
An Định, Lâm Kính, phủ thái thú.

Đại tướng Từ Vinh, bộ tướng của Đổng Trác đang cùng các thuộc tướng Hồ Chẩn, Hầu Tuyển, Thành Nghi và chư tướng nghị sự, chợt một tên tiểu giáo bước vào bẩm báo: “ Tướng quân, thám mã phi báo, rạng sáng nay phản quân của Mã Đằng chia binh làm bảy đường, mỗi đường bốn, năm trăm kỵ binh rời Bành Dương đi cướp phá xung quanh”.

“ Hả?” Từ Vinh phấn chấn nói: “ Vậy chứng tỏ phản quân đã hết lương thảo”.

Bộ tướng Hồ Chuẩn nói: “ Trước khi đi quân sư có nói nếu phản quân ra cướp bóc xung quanh Bành Dương chứng tỏ chúng đã cạn lương thảo. Quân sư đã để lại cẩm nang trong túi gấm và nói cứ làm theo cẩm nang là có thể phá được phản quân. Tướng quân, bây giờ chúng ta hãy mở cẩm nang của quân sư để lại xem diệu kế phá địch là gì?”

“ Đúng!” Từ Vinh đồng ý. Hắn lấy từ trong áo giáp ngực ra một túi gấm. Hắn trịnh trọng mở túi gấm, lấy ra một vuông lụa, vội vã đọc. Hắn vuốt cằm cười nói: “ Thì ra là thế, quả nhiên diệu kế. Thành Nghi nghe lệnh”.

Bộ tướng Thành Nghi bước ra nói: “ Có mạt tướng”.

Từ Vinh nói: “ Thống lãnh hai ngàn bộ binh đi áp tải xe lương. Trong xe lương đựng đá, cỏ khô, vải gai. Khi đêm xuống rời khỏi Lâm Kính đi dọc theo sông Kính Thủy. Nếu có phản quân truy đuổi, không được ham đánh, giả bộ bỏ chạy tới bãi sông Qua Cư. Sau khi tới bãi Qua Cư lập tức đốt lửa làm hiệu”.

Thành Nghi nói: “ Mạt tướng tuân lệnh”.

Từ Vinh lại nói: “ Trương Hoành, Hầu Tuyển nghe lệnh”.

Trương Hoành, Hầu Tuyển nhị tướng song song tiến lên nói: “ Có mạt tướng”.

Từ Vinh nói: “ Thống lãnh ba ngàn bộ quân mai phục hai bên cánh rừng bên cạnh bãi Qua Cư. Khi thấy ở bãi Qua Cư đốt lửa, dẫn quân lính xông ra đánh giết, giết hết phản quân cướp lương”.

Trương Hoành, Hầu Tuyển đồng thanh đáp: “ Mạt tướng tuân lệnh”.

Từ Vinh lại nói: “ Hồ Chẩn nghe lệnh”.

Hồ Chẩn tiến lên một bước, trầm giọng nói: “ Có mạt tướng”.

Từ Vinh nói: “ Chỉ huy năm ngàn quân ở lại phòng giữ Lâm Kính. Nếu không có mệnh lệnh của bản tướng quân, tuyệt không được mở cổng thành”.

Hồ Chẩn đáp: “ Mạt tướng tuân lệnh”.

Cuối cùng Từ Vinh nói: “ Các chư tướng còn lại”.

Các chư tướng bước ra, cao giọng nói: “ Có”.

Từ Vinh nói: “ Chỉ huy quân bản bộ theo bản tướng quân thừa dịp đánh chiếm Bành Dương”.

Chư tướng ầm ầm đáp: “ Tuân lệnh”.

Bành Dương.

Nửa tháng trước, sau khi cùng năm ngàn phản quân chạy thoát, Mã Đằng dẫn quân vây đánh Lâm Kính mấy ngày không hạ được thành, Mã Đằng đành dẫn quân quay lại tập kích Đại ấp Bành Dương ở phía bắc gần Lâm Kính làm nơi náu thân tạm thời. Nhưng Bành Dương thành nhỏ, dân ít, lương thảo trong thành có hạn. Chưa đến mười ngày, lương thảo trong quân Mã Đằng cạn kiệt. Mã Đằng bất đắc dĩ phải phái quân ra ngoài thành cướp phá xung quanh.

Đến tối các cánh quân ra khỏi thành cướp bóc đều quay về thế nhưng lương thảo thu được không nhiều.

Một viên tướng rầu rĩ nói: “ Tướng quân, dân chúng phụ cận Bành Dương đã chạy loạn hết. Rất nhiều thôn, làng không có một bóng người, lương thảo thu được không được bao nhiêu”.

Viên tướng đó đề nghị: “ Tướng quân, hay chúng ta giết ngựa làm lương thực, có được không?”

“ Nói bậy!” Mã Đằng giận dữ nói: “ Có chết đói cũng không được giết ngựa. Giết chiến mã thì lấy gì đánh trận? Ngươi chỉ nói bậy bạ”.

Viên tướng đó nói thầm: “ Nhưng dù sao cũng không thể để các huynh đệ đói bụng đánh nhau với quan quân”.

Mã Đằng hít một hơi thật sâu. Hắn trầm giọng nói: “ Đừng lo lắng. Bản tướng quân sẽ tìm cách giải quyết. Bản tướng quân nhất định sẽ có cách”.

“ Báo” Mã Đằng vừa dứt lời chợt có một tên thân binh chạy vào. Hắn quỳ trước mặt Mã Đằng, hấp tấp nói: “ Tướng quân. Có tin tốt”.

Mã Đằng vội la lên: “ Tin gì?”

Tên thân binh thở hổn hển nói: “ Thám mã vừa mới phi báo có một đội vận lương từ thành Lâm Kính đi dọc theo sông Kính Thủy về phía nam”.

“ Hả?” Mắt Mã Đằng sáng lên. Hắn vọi hỏi: “ Có bao nhiêu xe ngựa?”

Tên thân binh nói: “ Ít nhất năm trăm xe”.

" Có bao nhiêu binh lính hộ tống?"

" Ít nhất hai ngàn tinh binh"

" Hai ngàn tinh binh?"

Mã Đằng nhíu mày suy nghĩ. Sau mấy trận đánh gần đây, phản quân của Mã Đằng đã nếm mùi lợi hại của bộ binh tinh nhuệ của Đổng Trác. Binh lính người Khương Hồ được tổ chức thành bộ binh, những tên bộ binh thân thể cường tráng, cao lớn, tay cầm khiên mộc dầy và trường thương. Chúng không e sợ thiết kỵ Tây Lương đột kích.

Bàng Đức trầm giọng nói: “ Tướng quân, liệu đây có phải quỷ kế của quan quân không?”

Tên thân binh lắc đầu nói: “ Thám mã nói xe tải lương rất nặng, không giống như xe không”.

Mã Đằng trầm ngâm suy nghĩ. Đội vận lương này có thể là quỷ kế của quan quân, mà cũng có thể là không. Nhưng Mã Đằng không còn sự lựa chọn nào khác, chỉ cần có một cơ hội mong manh hắn cũng phải nắm lấy nó. Lương thảo trong thành Bành Dương đã cạn. Nếu hắn không tìm ra biện pháp nào, các huynh đệ sẽ phải chịu đói.

Mã Đằng hít thật sâu, trầm giọng nói: “ Bàng Đức nghe lệnh”.

Bàng Đức bước ra, dứt khoát nói: “ Có mạt tướng”.

Mã Đằng nói: “ Chỉ huy một ngàn quân ở lại phòng giữ Bành Dương”.

Bàng Đức đáp: “ Mạt tướng tuân lệnh”.

Mã Đằng nói tiếp: “ Các chư tướng chỉ huy quân mã bản bộ theo bản tướng quân đêm nay đi cướp lương. Bản tướng quân không tin bốn ngàn thiết kỵ Lương châu không đánh lại hai ngàn bộ binh quan quân”.

Các tướng lĩnh Khương Hồ ầm ầm đáp: “ Tuân lệnh”.

Dọc theo con đường quan đạo từ Lâm Kính đi về phía nam, Thành Nghi, bộ tướng cũ của Hàn Toại suất lĩnh hai ngàn bộ binh áp ải năm trăm xe lương thảo thừa dịp đêm tối đi về phía nam. Trong ánh đuốc, đoàn xe ngoằn nghèo uốn lượn thành một đoàn dài tới mấy dặm. Thành Nghi mình mặc áo giáp, tay cầm trường đao, cùng mười thân binh hộ vệ đi đầu đoàn xe.

“ Đi, đi, đi”.

“ Dạ.”

Đoàn xe đang từ từ đi trên dường, chợt phía sau vang lên tiếng vó ngựa dồn dập. Thành Nghi hét lên một tiếng quay đầu lại, dưới ánh sáng nhạt nhòa của ánh đuốc hắn thấy có một người đang cưỡi ngựa như bay từ phía bắc tới.

“ Tướng quân, phản quân đã ra khỏi Bành Dương”.

“ Thật không?” Phản quân quả nhiên trúng kế!” Thành Nghi hỏi: “ Phản quân có bao nhiêu nhân mã?”

“ Chừng bốn ngàn quân kỵ binh”.

“ Bốn ngàn kỵ binh?” Thành Nghi trầm tư nói: “ Nếu vậy Mã Đằng đã dốc toàn lực. Vậy cũng tốt lần này sẽ cho chúng không còn đường lui nữa. Người đâu”.

“ Có!”

Đám thân binh ầm ầm đi tới trước mặt Thành Nghi.

Thành Nghi nói: “ Truyền lệnh, toàn quân tăng tốc độ hành quân. Lập tức đi tới bãi sông Qua Cư”.

“ Tới bãi Qua Cư?’ Một tên thân binh nghi ngờ hỏi lại: “ Bãi Qua Cư toàn sình lầy, người ngựa khó đi qua. Nếu xe lương vào đó sẽ bị sụt lún không đi được. Tướng quân, cái này …….”.

Thành Nghi nói: “ Hỏi nhiều làm gì? Mau đi đi”.

Tên thân binh run rẩy đáp: “ Tiểu nhân tuân lệnh”.

Quân lệnh của Thành Nghi nhanh chóng được truyền xuống phía dưới. Đội quân vận lương nhanh chóng thay đổi tốc độ hành quân hướng tới bãi sông Qua Cư.

Trên vùng bình nguyên cách bãi Qua Cư hai mươi dặm về phía bắc, Mã Đằng và bốn ngàn thiết kỵ đang phi nước đại về hướng nam.

“ Báo.” Một tên thám mã từ phía nam phị như tên bắn tới. hắn tới trước mặt Mã Đằng nói: “ Tướng quân, đội tải lương đột nhiên tăng tốc độ”.

“ Hả? Thế là đúng rồi!” Mã Đằng phấn chấn nói: “ Nếu đúng là quỷ kế của quan quân. Đội vận lương phải từ từ đi, dụ quân ta tới cướp lương. Bây giờ chúng tăng tốc độ hành quân, đủ chứng minh đó không phải quỷ kế. Không còn gì nghi ngờ nữa đó là xe tải lương thảo”.

Tướng lĩnh tùy tùng xu nịnh nói: “ Tướng quân anh minh”.

“Ha, ha” Mã Đằng cười to nói: “ Truyền lệnh, toàn quân tăng tốc độ hành quân, cùng bản tướng quân đuổi theo”.

Phản quân của Mã Đằng đuổi về hướng nam được mười dặm, lại có thám mã từ phía trước chạy về.

“ Tướng quân, quan quân vận lương đột ngột bỏ quan đạo, đi vào bãi sông Qua Cư”.

“ Bãi sông Qua Cư? Đó là nơi đầm lầy người ngựa khó đi qua.” Sắc mặt Mã Đằng nghiêm lại rồi hắn cười to: “ Cái này càng chứng minh quan quân vận lương không chạy trốn được, chúng muốn dựa vào địa thế của bãi sông Qua cư, triệt tiêu ưu thế thiết kỵ của chúng ta. Chúng muốn dựa vào đó chống cự”.

Một viên tướng nói: “ Đầm lầy không có lợi cho thiết kỵ. Đây chắc chắn là một cái bẫy”.

Mã Đằng nói: “ Đầm lầy tất nhiên không lợi cho thiết kỵ công kích. Nhưng cũng đừng quên quân Lương châu không những vô địch về kỵ binh mà đánh bộ cũng rất tinh nhuệ. Truyền lệnh toàn quân tăng tốc độ xông tới bãi sông Qua Cư”.

Mệnh lệnh của Mã Đằng vừa ban ra bốn ngàn thiết kỵ ngay lập tức như nước thủy triều cuốn tới trên bình nguyên dọc theo tả ngạn sông Kính Thủy tràn tới bãi sông Qua cư.

Bãi sông Qua Cư.

Hai ngàn quân bộ binh của Thành Nghi đã bày trận sẵn sàng. Năm trăm xe ngựa của đội vận lương đã tới nơi. Phía trước của bãi sông là một bức tường mới dựng, bên trong đông nghịt binh lính cầm trường thương. Sau khi đoàn xe lương đi vào trong trận, những ngọn đuốc cháy soi sáng bãi sông như ban ngày, phía sau đó là nước sông Kính Thủy mênh mông, lạnh giá.

Đột nhiên ở chân trời ở bình nguyên phía bắc lập lòe ánh lửa. Trong chốc lát ánh lửa đó càng tiến tới gần, tỏa ra khắp nơi, ánh sáng càng lúc càng rõ theo âm thanh của vó sắt kéo tới. Cuối cùng tạo thành một biển lửa mênh mông, dưới ánh sáng chiếu dọi của vô số cây đuốc, thiết kỵ Tây Lương xuất hiện như bóng ma hiện ra từ bóng tối.
Đăng nhận xét